[Review] Nikon AF600 – Đi tìm giá trị giữa những tầng hype.

Cách đây khoảng vài năm, thị trường PnS tương đối nhạt nhoà, nói thẳng ra thì không ai quan tâm; có lẽ một phần vì quan niệm chung thời điểm đó thì PnS là “máy ảnh du lịch”, những chiếc máy tầm thấp bằng nhựa dễ trầy xước cũ kĩ, chạy pin, chất lượng ảnh trung bình, dễ hỏng mà hỏng cũng chẳng biết sửa ở đâu. PnS dòng tiêu dùng xa xỉ gần như không xuất hiện tại Việt Nam, và những dòng máy có chất lượng tốt khác thuộc dòng high-consumer như Mju 2 hay Fuji Tiara cũng có giá không quá cao, chỉ tầm ~3tr cho một máy còn đẹp và hoạt động tốt.

Bẵng đi một thời gian, khi mà ảnh phim dần dần len lỏi vào giới celeb và influencer, tiêu biểu là Kendall Jenner với sự thổi giá ngoạn mục của Contax T2 thì câu chuyện hoàn toàn đổi khác; giá PnS – hay nói đúng hơn là những chiếc PnS lens fix có chất lượng từ tầm trung tới xa xỉ tăng lên chóng mặt và thường xuyên cháy hàng. Chiếc Nikon AF600 mình đang có ở đây cũng nằm trong số đó; khi là chiếc máy ảnh ưa thích của EXO Chanyeol.
Hãy xem nó có xứng đáng với cái giá và những kì vọng mình đặt vào chiếc máy này hay không nào.


Nikon AF600 (hay Nikon LiteTouch AF) ra mắt vào năm 1993, nhắm tới phân khúc người dùng phổ thông có nhu cầu cao và là máy ảnh phim có AF nhỏ nhẹ nhất vào thời điểm đó.

Thông số kĩ thuật và thiết kế

Processed with VSCO with c5 preset

  • Film: 135 loại có DX code trên vỏ để tự nhận iso từ 100 – 1000. Nếu film không có DX code máy sẽ tự nhận là iso 100.
  • Lens: Nikon 28mm, f/3.5 – f/16, 3 thấu kính
  • Shutter: 1/4s – 1/250s. Máy hoàn toàn tự động.
  • Bù trừ EV: Không
  • Self-timer: 10s, hỗ trợ double selftime
  • Có Panorama Mode, thực chất là che mask để crop ảnh, cũng tương đối tiện lợi khi chụp phong cảnh
  • Flash: Gắn cứng trên máy, có khử mắt đỏ. Thời gian sạc lại flash sau mỗi lần chụp flash là 3s.
  • Pin: 3V CR123A/DL123 hoặc các pin khác có hiệu điện thế tương đương.
  • Nặng 155g
  • Chồng hình: không

Máy thực sự có kích thước nhỏ và rất nhẹ, không nhỏ như chiếc Rollei 35s nhưng vẫn là nhỏ và thế là vừa đủ. Tuy nhẹ và làm hoàn toàn bằng nhựa nhưng cảm giác cầm trên tay vẫn rất đầm và đủ chắc chắn. Chất nhựa được phủ một lớp sơn nhám mình nghĩ cũng khá cao cấp nên không tạo cảm giác rẻ tiền. Một số máy cũ tất nhiên sẽ có vết trầy xước hoặc bong tróc lớp sơn này lên nước bóng.
Để mà so sánh thì mình có một chiếc Pentax IQZoom EZY-R thuộc phân khúc giá rẻ. Khi cầm 2 máy trên tay sẽ thấy rõ chiếc Nikon AF600 tuy nhẹ hơn nhưng chắc chắn và “đặc” hơn nhiều.

Cò chụp và các nút bấm của máy được làm bằng cao su, cảm giác bấm cò ở mức trung bình và các nút chức năng thì thực sự khó bấm.

Màn LCD ink của máy sẽ thể hiện số kiểu đã chụp, flash mode và chức năng chụp đang chọn, khá đầy đủ.

Tiếng màn trập rất nhỏ, ở các tốc cao thì có thể coi là không nghe thấy. Tiếng ồn khi motor mở máy/tua phim ở mức trung bình và tương đối tương đồng với các máy PnS khác.

Viewfinder
Nikon AF600 có viewfinder không to nhưng rất sáng. Nếu nói về độ sáng thì không hề thua kém gì Contax T2. Viewfinder của máy có đầy đủ điều chỉnh cho khung hình khi lấy nét gần, khung khi chụp panorama và cả điểm lấy nét khi lấy nét ở vật gần từ 1m đổ lại. Hình ảnh nhìn được trong view cũng rất chính xác chứ không hề bị méo nặng 4 góc như các máy PnS rẻ tiền dù là view của tiêu cự 28mm
Tóm lại là nếu nói về viewfinder thì Nikon đã trang bị cho máy một cái view ngang hàng với các dòng xa xỉ phẩm. Tuy nhiên phần cửa sổ để đặt mắt vào viewfinder rất bé, nếu đeo kính thì chỉ có thể nhìn ghé ghé khá bất tiện.

Lens & focus
Máy dùng lens Nikon 28 f3.5, thấu kính di chuyển khi lấy nét chụp. Lens thuộc loại 3 thấu kính, công thức đơn giản nhất của ống kính hiện đại nên chất lượng ở tầm khá, độ nét và contrast tốt khi chụp màu; tuy nhiên chụp đen trắng chỉ ở mức ổn. Lens cho ra bão hoà màu khá cao và tối góc rõ rệt ở f/8. Điểm cộng là độ méo hình được kiểm soát rất tốt so với một chiếc PnS. Ngoài ra lens có khả năng lấy nét rất gần ở 35 cm; cùng với tiêu cự 28mm là một tiêu cự rất thú vị và nên thử thì đây là một lens khá tốt. Hơi tiếc là khẩu tối đa chỉ có 3.5, nhưng nếu có khẩu 2.8 thì hẳn giá của máy đã cao hơn nhiều.

Autofocus của máy không hoạt động ngay khi bấm nửa cò, mà chỉ hoạt động khi bấm full, tức là hoạt động theo cơ chế AE-Lock. Đây là đặc điểm được mang từ dòng cao cấp 28/35Ti qua.

Máy focus rất nhanh và chính xác, nếu dùng đúng điểm lấy nét xa và gần trong viewfinder. Đừng quá đánh đố bằng việc chụp trong điều kiện ánh sáng và background phức tạp là được.

Kết luận
Nikon AF600 là một chiếc máy tốt, thiết kế chắc chắn và là một lựa chọn đang có giá tương đối tốt nếu bạn muốn trải nghiệm tiêu cự 28mm. Việc Nikon mang một số đặc điểm từ các dòng PnS cao cấp của hãng xuống chiếc máy này càng khiến cho nó đáng dùng và có trải nghiệm tốt hơn. Tuy nhiên với chất lượng ảnh chỉ ở mức khá, build full nhựa dễ cũ đi nhanh theo thời gian và giá vẫn tiếp tục tăng thì đây vẫn là một lựa chọn nên cân nhắc và chỉ thực sự nên mua nếu bạn cảm thấy đầu tư nhiều cho một chiếc PnS là xứng đáng.
Đánh giá: 3.5/5

Chuyện chụp phim của chúng ta, 2019.

Từ “Chúng ta chụp ảnh phim tới bao giờ?” của anh Đạt Trần hồi 2014.

Giờ đã là một ngày nửa sau của 2019. Trời vẫn mưa, người vẫn quay quay, và cộng đồng chơi phim thì lại vừa qua dăm cái drama. Thôi thì ngó qua xem chúng ta có gì ở cộng đồng vào lúc này.

Người chơi, số lượng vẫn rất đông, trái ngược với khá nhiều dự đoán về sự suy giảm số lượng hồi 2015-2016. Trước vào một group chơi phim đa số khoảng 30% mọi người biết nhau qua lại, giờ thì chịu vì nhiều gương mặt mới quá. Một phần vì phong trào retro/vintage trong văn hoá đại chúng vẫn chưa nguội, một phần vì để tiếp cận với nhiếp ảnh nghiêm túc thì chi phí khởi đầu với ảnh phim vẫn thấp hơn ảnh số nhiều với cùng một chất lượng, nên có nhiều newbie tìm tới.

Buồn một nỗi, cộng đồng đông nhưng không sâu, nhiều kiến thức sai lệch nặng nề được chia sẻ bởi những người chơi mang tiếng lâu nhưng nửa vời tới người mới, thương gia ra sức “thuốc” người mua để bán được máy giá cao; một vài người chơi, đáng giận hơn, cố tình có thái độ troll/trêu chọc quá đáng kiểu đuổi khách với newbie. Điển hình nhất là kiểu có bạn trẻ nào vào hỏi mua máy gì tốt y rằng sẽ có vài bố vào spam Leica, Rollei, Hassy… rồi tag nhau vào cười hô hố làm như hay lắm trong sự hoang mang của người hỏi. Đến là chán.

Chuyện drama thì cộng đồng nào thời đại này cũng có, nhưng drama cộng đồng phim thì thường rất nhảm và không đem lại lợi ích hay kiến thức gì cho những người tham gia và đứng hóng cả. Một cái chán khác.

Nếu có niềm vui nào với cộng đồng người chơi, cơ bản là vẫn còn những cộng đồng nhỏ và những cá nhân sẵn sàng chia sẻ kiến thức với người chơi khác một cách thực sự nghiêm túc. Như chuỗi workshop cơ bản nhiếp ảnh giá mềm của ByFilm Coffee tại SG hay page Khoa Trần Workshop chẳng hạn. Anh em chơi cùng với mình thì người còn người rơi rớt, ai còn chơi thì cũng lên level cực kì nghiêm túc cả rồi.

Chuyện thiết bị cũng lắng xuống, giá cả cơ bản là tốt và ít biến động mạnh so với cách đây vài năm. Giờ còn là cơ hội rất tốt để sở hữu một số dòng máy trung và cao cấp vì giá đã rẻ đi nhiều. Chịu khó kiên nhẫn và tìm seller uy tín là có thể tìm được bộ máy ưng ý với chất lượng yên tâm.

Tuy vậy, nguồn phim là một chuyện thực sự nhức nhối. Fujifilm cắt giảm sản xuất nhiều loại phim, một số loại phim rebrand đáng tin cậy thời kì trước như Afga Vista cạn stock, các emulsion mới từ Lomography và một số nhà máy địa phương nhỏ lẻ thì ít được nhập về nguồn lớn; chủ yếu chỉ có các shop phim nhỏ mang về nhỏ giọt nên giá rất cao. Tất cả làm nguồn cung và lựa chọn phim phổ thông phải nói là tương đối khan hiếm so với trước đây. Người chơi biết một chút thì có thể chơi phim chiết bánh lớn để tiết kiệm chi phí, người có điều kiện thì có thể trữ số lượng lớn phim chụp dần; còn người ít biết thì kẹt trong mê hồn trận phim rebrand dán nhãn lung tung không rõ nguồn gốc, phim outdated được bán giá cao gấp 3-5 lần giá trị sử dụng và tồi tệ hơn là phim giả/tráo ruột, như một vụ drama lớn trong cộng đồng gần đây.

Lab và dịch vụ tráng scan cả về số lượng và chất lượng về tổng quan là vừa đủ dùng cho nhu cầu của đại đa số dân chơi. Tuy nhiên các dịch vụ cao cấp cho người chơi chuyên nghiệp thì có thể coi là đã tuyệt chủng.

Tình hình vài năm nữa với nhiếp ảnh phim có thể sẽ tương đối ảm đạm, tuy nhiên hãy hi vọng là phim vẫn sẽ sống khoẻ sống mạnh. Mình thì chắc sẽ trữ dần một vài stock phim đủ dùng trong vài năm và tự túc tráng/scan phim đen trắng trong một thời gian gần tới đây thôi.

Cheers!

Rollei 35s — Tí hon và mạnh mẽ.

Bài này vốn được mình viết cho mayanhphim.vn, nay mang về blog cá nhân có sửa đổi thêm đôi chút cho phù hợp với trải nghiệm đã hơn 2 tháng của mình với máy này.

Khi nhắc tới Rollei, các bạn nghĩ gì? Chắc chắn đa số sẽ là nhớ về những chiếc máy song kính (TLR) Rolleiflex đẹp hoành tráng và có cái giá “đau thận” với người chơi phổ thông; hoặc đứa em cấp thấp hơn của nó là Rolleicord. Đâu đó thi thoảng sẽ thấy rao bán một vài máy Rollei medium format SLR cũng to nặng vài cân (Rollei SL66, Rollei SLX, …), giá cao và chỉ phù hợp với việc để ở trong studio thay vì vác ra phố. Tóm lại, với đa số, Rollei đơn giản là “to” và “cao”. Chỉ có một số ít người chơi phổ thông tại Việt Nam để mắt tới một thái cực hoàn toàn đối lập của Rollei: Một chiếc máy ảnh từng là máy ảnh dùng film 35mm nhỏ nhất thế giới, món đồ yêu thích của Nữ hoàng Anh Elizabeth II, một dòng họ luôn nằm trong những lựa chọn thiết bị “ngon” cho thể loại streetlife: Rollei 35.

Quay ngược lại với lịch sử một chút. Rollei 35 (Original) được tạo ra bởi kỹ sư người Đức — Heinz Waaske. Ý tưởng về chiếc Rollei 35 được hình thành khi Waaske nhận ra rằng, người tiêu dùng phổ thông yêu thích những chiếc máy phim 16mm (hay thường được gọi là “spy camera” — máy ảnh điệp viên) là vì thiết kế đẹp và tính tiện dụng hàng ngày của nó, còn chất lượng cơ khí cũng như chất lượng ảnh từ khổ phim tí teo của các máy này thì thực sự tệ. Vậy là Waaske quyết định tạo ra chiếc máy ảnh để đời của mình. Một cỗ máy cũng thừa nhỏ gọn để đút vào túi áo khoác mang theo bên mình, đẹp như một món trang sức mà lại cho ra ảnh chất lượng tốt của khổ phim đầy đủ 35mm. Một ý tưởng phi thường.

Trong một vòng đời dài lên tới gần 30 năm của cả dòng máy, Rollei 35 có tương đối nhiều biến thể cũng như phiên bản khác nhau trải dài trên nhiều phân khúc và là thành công lớn nhất của Rollei trên thị trường máy ảnh 35mm. Cho tới hiện tại, những chiếc Rollei 35 vẫn là chiếc máy có giá trị cả về sử dụng lẫn sưu tầm. Rõ ràng là tươi sáng hơn nhiều số phận hẩm hiu của ông em sinh sau đẻ muộn Rolleiflex SLR 35mm. Ở đây sẽ nói tới chiếc máy mình đang có trên tay, là chiếc Rollei 35S.

Rollei 35S được sản xuất từ năm 1974 đến năm 1980 tại Singapore và là phiên bản mới của Rollei 35 tại thời điểm đó, sản xuất song song với phiên bản gốc lúc này được đổi tên thành Rollei 35T để phân biệt. T là viết tắt của Tessar còn S là viết tắt của Sonnar (tên các loại công thức kính của Carl Zeiss).Tại thời điểm ra mắt, Rollei 35S được đánh giá cao về chất lượng ảnh nhờ sử dụng lens CZ Sonnar 40/2.8 với coating HFT của Rollei.

Cảm giác đầu tiên khi cầm vào chiếc máy này đó là nó rất nhỏ, ngang một bao thuốc lá và có thể nằm gọn trong lòng bàn tay; đúng là khó tin khi tồn tại một thiết kế có thể đưa cuộn phim 35mm vào trong một kích cỡ bé tới vậy ở thời đại của nó. Tuy nhiên, sự bé nhỏ không hề gây ra cảm giác hụt hẫng hay ọp ẹp. Máy build kim loại, khá nặng nếu so tương quan với kích cỡ (345g) và vỏ máy cũng như các chốt khoá đều được làm rất chắc chắn. Chắc chắn là ai cầm vào cũng vẫn sẽ có cảm giác đây là một chiếc máy ảnh nghiêm túc. chứ không phải một cái hộp đồ chơi cơ khí rẻ tiền.

Điểm tiếp theo ở Rollei 35(S) đó là để tận dụng không gian thì toàn bộ các bánh xe điều khiển đều được đưa ra mặt trước của máy thay vì ở trên đỉnh như thông thường, và thiết kế khác lạ này không gây ra bất cứ khó khăn nào cho việc quan sát và tuỳ chỉnh thông số; tất cả đều rất rõ ràng và dễ nhìn. Tuy nhiên, vì 2 bánh xe khá nhỏ cho nên có thể có một vài lấn cấn với người có ngón tay to.

Trong quá trình thực tế sử dụng thì cảm giác của mình với Rollei 35S là rất tiện lợi và dễ chịu. Chủ đích chụp ảnh mà như không chụp vì không có cảm giác bị ràng buộc bởi cái máy ảnh là một trải nghiệm cực kì thoả mãn. Ở phía ngược lại, một cái hộp nhỏ xinh trông có vẻ vô hại và gần như không phát ra tiếng động cũng sẽ khiến chủ thể được chụp thân thiện hơn với người chụp ảnh. Mà chụp lén cũng được luôn vì máy quá bé và rất khó phát hiện, đặc biệt là với bản màu đen.

View của máy tương đối to và sáng so với tương quan các máy PnS, tuy nhiên hơi tiếc là không có rangefinder và cũng không có căn chỉnh parallax cho nên khung hình nhìn thấy sẽ hơi lệch về bên phải so với ảnh thu được. Tuy nhiên trong view có sẵn đánh dấu khung ảnh nên chỉ cần làm quen một chút là được.

Vì không có rangefinder nên các máy Rollei 35 đều sử dụng phương thức lấy nét theo khoảng cách (zone/scale focus). Người chụp sẽ ước lượng khoảng cách từ mình tới chủ thể rồi xoay vòng lấy nét tới khoảng cách phù hợp in trên đó (tính bằng mét). Cơ chế này có thể gây ra một số khó khăn cho người mới, tuy nhiên sau khi đã quen thuộc với cách này thì tốc độ chụp đôi khi còn nhanh hơn kiểu lấy nét thông dụng, tóm lại là chỉ cần quen thôi.

Một yếu điểm khác là với tiêu cự 40mm và khoảng cách lấy nét gần nhất lên tới 0.9m thì Rollei 35 không thích hợp lắm với việc chụp đồ ăn thức uống, hoa lá cành cận cảnh cũng như chụp mẫu xoá phông, ngay cả ở khẩu lớn nhất là 2.8. Cũng hơi “hoang phí” một chút với một chiếc lens rất tốt. Tuy nhiên đặc trưng là một chiếc máy thường nằm trong tay street photographer thì đây cũng không phải vấn đề gì to tát. Đơn giản là mỗi thiết bị có một giới hạn phù hợp với nó, hãy tham khảo và chọn kĩ trước khi mua.

Một tip về lấy nét với Rollei 35 mà mình học được từ các bạn Tây vui chơi trên Flickr là với khung hình ngang và chủ thể là người lớn có chiều cao bình thường thì khoảng cách ước lượng được tính như sau:

  • Chỉ thấy gương mặt chủ thể: 1–1.2m
  • Chân dung ngang ngực: 1.5m
  • Bán thân: 2–3m
  • Toàn thân: 6m Rồi từ đây ước lượng các khoảng cách khác. Mình đã thử với cuộn đầu trên chiếc Rollei 35S và hoàn toàn chính xác.

Nói tới cuộn đầu thì hãy nói tới ảnh. Phần lớn các máy nho nhỏ xinh xinh dạng PnS đều đi kèm một cái lens tạm ổn, cho ra ảnh cũng tạm. Chiếc này nằm trong phần thiểu số, đơn giản vì như phần đầu đã nói, người thiết kế ra dòng Rollei 35 muốn nó phải có chất lượng ảnh thực sự tốt. Và lens Rollei Sonnar 40 2.8 có trên máy cho mình một cuộn đầu với chất lượng ảnh tốt: độ nét và màu sắc đều ngon lành chỉ với phim cơ bản và scan thông thường. Mình sẽ thử thêm một cuộn nữa với phim và chất lượng scan tốt hơn để xem còn có thể đạt được chất lượng ảnh như thế nào với cái máy này.

Nếu có gì hơi không hài lòng về chiếc máy này thì chỉ có một vài điểm nho nhỏ trong thiết kế. Thứ nhất là đo sáng. Chiếc 35S của mình sử dụng đo sáng CdS hiển thị bằng kim được đặt trên đỉnh máy và may mắn là nó hoạt động vẫn chính xác, nhưng mà có hơi bất tiện là mỗi khi muốn chụp thứ gì đó cao qua tầm mắt là khỏi nhìn được đo sáng luôn. Trong khi đó, các máy đời E (SE/TE) có đo sáng hiển thị bằng LED trong view thì lại thường được phản ánh là không có độ chính xác tốt bằng hệ chỉ kim và độ bền không cao.

Cũng có liên quan đôi chút tới đo sáng là cái chỗ để pin. Hộc pin đo sáng của Rollei 35(S) nằm cùng chỗ với nơi chứa cuộn phim, tức là nếu đã lắp phim vào rồi thì khỏi thay pin trong quá trình chụp. Thiết kế của cái nắp pin cũng dễ gây nhầm lẫn cho người dùng rằng để pin vào đấy rồi lắp phim vào là xong. Nhiều người nhầm, và mình cũng nhầm, xong bị cười cho vào mặt. Nên lưu ý điểm này dù máy hoàn toàn full cơ và pin có hay không cũng không ảnh hưởng gì nhiều tới tổng thể hoạt động

Cuối cùng là bộ đếm số kiểu và chân flash. Cũng vì lý do thẩm mỹ mà 2 phần này của máy được đưa xuống đáy máy, gây ra một vài bất tiện trong việc quan sát và sử dụng. Tất cả là do cái sự đẹp gây ra 😀

Tóm lại, tổng hợp những ưu điểm và bỏ qua những lấn cấn không đáng kể về trải nghiệm, Rollei 35S và các anh em của nó là một chiếc máy phù hợp với những người chuyên chụp streetlife, muốn có trong tay một cái máy nhỏ gọn, thao tác nhanh, ít gây chú ý, chất lượng hoàn thiện máy và chất lượng ảnh tốt mà lại không thích PnS lấy nét tự động. Sau khi sở hữu một em thế này mà tốc độ đốt phim của anh chị em tăng lên, thì đấy không phải lỗi của mình nhé. 😀 Và vì Rollei 35 cũng khá kén người dùng nên hãy dùng thử và suy nghĩ kĩ trước khi lựa chọn.

[Review] Nikon F — Chắc chắn và đáng tin cậy.

Sau hơn 1 năm nghỉ chụp film vì… nghèo, khoảng tháng 10 năm ngoái mình có quay lại chụp với một chiếc Rollei 35S và khá hài lòng với chất lượng của máy này cho streetlife photo. Tuy nhiên với nhu cầu chất lượng ảnh cao hơn cho một vài vụ chụp nghiêm túc thì mình lại tiếp tục tìm kiếm thêm một máy SLR. So với hồi mới chơi thì giờ đã có tí máu máy ảnh gia hơn nên quyết định là sẽ kiếm một bộ vừa ngon lành trong trải nghiệm chụp và chất lượng ảnh; vừa có tính sưu tầm để khoe. Với những gì đã cầm và chụp qua thì mình quyết định quay lại với Nikon và chọn Nikon F, sau ấn tượng tốt về chiếc Nikon FE.

Thiết kế
Nikon F là hệ thống SLR chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới, thể hiện nỗ lực của Nippon Kogaku Tokyo và cả nỗ lực của người Nhật trong việc cải tổ nền công nghiệp và thúc đẩy sáng tạo trong nước hậu WWII, thay vì tiếp tục cải tiến và “vắt sữa” hệ thống rangefinder Nikon S vốn được ưa chuộng thời đó. Máy cực kì chắc chắn và nặng. Sau nửa năm cầm Rollei 35 quen thì thực sự mình thấy Nikon F… nặng 😀

Về mặt điều khiển thì không có gì đáng nói; nếu đã từng cầm máy ảnh thì chắc chắn sẽ dùng được máy này mà không gặp khó khăn gì. Hệ cơ của máy cũng rất chắc chắn, không có hiện tượng ọp ẹp hay có tiếng kêu lạ khi lên phim hay chỉnh tốc độ. Máy dùng màn trập vải cao su hoá nên tốc độ tối đa là 1/1000s, vừa đủ dùng với đa số filmer.

Một điểm hơi không ưng lắm ở thiết kế body của Nikon F đó là máy vẫn còn dùng thiết kế back máy khoá chốt — rút giống với các máy rangefinder đàn anh của nó chứ chưa sử dụng thiết kế back bản lề hiện đại hơn nên đôi khi hơi mất thời gian khi thay film.

View và lấy nét 
View của Nikon F khá to và rất sáng với độ bao phủ khung hình 100%, thể hiện rõ đây là một chiếc máy ảnh thuộc phân khúc high-end professional vào thời của nó. Trong số các máy ảnh film tầm trung-thấp mình đã từng dùng qua thì không có cái nào có view ngắm đủ khả năng so với chiếc máy này. 
Thường nếu chủ cũ không thay focus screen khác thì máy sẽ đi với screen nét cắt, “hợp gu” đa số người chụp.

Đo sáng 
Máy mình có ở đây đi cùng gù tháp DE-1, không có đo sáng. Mình mua nó vì 2 lý do: 1. Đẹp. 2. Giá gù này đang khá cao và có dấu hiệu lên cao nữa, nên mua nhanh còn kịp. Mình cũng có máy đo sáng rời cho những shoot project nghiêm túc và hoàn toàn tự tin vào khả năng tự đo sáng của bản thân khi chụp dạo cho nên bỏ qua đo sáng built-in cũng được. 
Nếu cần đo sáng trên máy thì Nikon F là một hệ thống hỗ trợ rất nhiều loại gù khác nhau nên có thể dễ dàng mua được máy đi kèm gù Photomic có đo sáng còn hoạt động chính xác đủ dùng.

Về Nikon F ‘Apollo’
Chiếc Nikon F của mình thuộc vào đời cuối của F sản xuất từ 1972–1974 trước khi chuyển sang F2; hay còn được gọi bởi giới sưu tầm là ‘Apollo F’ vì cùng giai đoạn này Nikon đang hợp tác với NASA để tạo ra những chiếc F dành riêng cho các sứ mệnh hàng không vũ trụ trên tàu Apollo 15 & 17.
Tất nhiên đây là một tên gọi có tính quảng bá là chính vì những chiếc late Nikon F đại trà này không liên quan gì tới Nikon F modified by NASA cả; tuy nhiên nó vẫn có một số cải tiến nhỏ nhưng đáng giá về mặt trải nghiệm sử dụng so với các máy ra mắt trước đó. Hay có thể nói đây là F với trải nghiệm của F2:

– Cần lên film và self-timer được thiết kế lại và bọc đầu nhựa. Việc này khiến thao tác lên film dễ chịu với ngón tay hơn rất nhiều thiết kế đầu tiên full kim loại và có răng cưa.

– Dùng ốc Phillips thay vì ốc đầu slot, việc này khiến thao tác tháo máy ra lau chùi sửa chữa hiện tại thuận tiện hơn.

– Một số người sở hữu cả 2 phiên bản của Nikon F nói rằng view của các máy late version này sáng hơn và ít gặp hiện tượng bị sọc ngang, đốm mốc trong view của bản early.

Về lens 50/1.4 Auto S.C

Lens mình mua cùng với body máy là Nikkor 50/1.4 Auto S.C. Lens này là thế hệ thứ 2 sau đời Auto-S với coating cải tiến, tuy vẫn là coating đơn.
Lens thể hiện ở khẩu 1.4 chỉ ở mức trung bình, độ nét chấp nhận được, khi ngược sáng hoặc ánh sáng mạnh thì ảnh bị hazy khá rõ. Hiện tượng này sẽ giảm xuống rõ rệt ở f1.8 và hết hẳn ở f2. Lens này hiện có giá khoảng 1tr8–2tr tuỳ tình trạng và phụ kiện đi kèm, rẻ hơn tương đối so với các lens AI-AIs mà chất lượng không thua kém quá nhiều. Nếu so với chiếc 50/1.8 AIs pancake mà mình từng dùng trên Nikon FE thì không được nét tới độ ‘razor sharp’ như vậy ở cùng khẩu nhưng mình lại thích hơn vì sự mềm mại và màu sắc ấm áp có phần “phim” hơn của nó.

Kết 
Đối với ai thích một chiếc máy chắc chắn, full mechanical và đã dùng qua các máy tầm trung-thấp, muốn bắt đầu tìm tới một body chất lượng cao hơn thì Nikon F là sự lựa chọn tốt với hệ lens Nikkor xuất sắc. Tuy nhiên, độ nặng của máy và độ nặng về giá ở thời điểm này cũng nên là vấn đề cần cân nhắc.

15s dành cho quảng cáo: Body, lens, filter, dây đeo gốc theo máy… mình đều mua của anh Bắc aka người bán máy đẹp máy ngon nhất vịnh Bắc Bộ :v